Câu 1. Những
đặc điểm kinh tế của các dân tộc thiểu số Việt Nam
-
Hoạt động kinh tế truyền thống các dân tộc Việt Nam
có kinh tế sản xuất: hoạt động trong nông nghiệp, thủ công nghiệp, chăn nuôi,
kinh tế tự nhiên gắn với săn bắn, hái lượm, đánh cá. Trong hoạt động kinh tế
các dân tộc người Việt Nam chủ yếu là lấy kinh tế sản xuất mà nông nghiệp là
loại hình kinh tế chủ đạo.
-
Đối với loại hình kinh tế nông nghiệp của các dân tộc Việt Nam là: canh tác nương rẫu, và canh
tác ruộng nước.
+
Canh tác nương rẫy (ở các cư dân miền núi - khô):
Đây
là phương pháp đốt rừng, gieo cấy: tiến hành chặt cây đốt rừng, canh tác trên
mặt đất được chặt đốt đó. (người Thái gọi nương rẫy là hẫy). Theo kinh nghiệm
của người Việt Nam
thì một mảnh đất canh tác tối đa chỉ là 3 vụ.
Năng
suất của cây trồng trên nương rẫy thường không ổn định, vì nó phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, đồng thời phụ thuộc và sức con người: người ta thống kê một
chu kỳ trong 10 năm thì số năm đủ ăn là 3 năm, còn lại 3 năm thiếu ăn từ 1 đến
3 tháng, 3 năm thiếu ăn từ 3 tháng trở lên và 1 năm thiếu ăn trầm trọng.
Cấu
trúc của bản làng của các cư dân sống bằng nương rẫy là thường phân tán và di
động (do năng suất không ổn định). Theo các chuyên gia nghiên cứu thì sống bằng
canh tác nương rẫy chỉ có từ 4-5 nóc nhà thì sẽ đảm bảo được cuộc sống trong
gia đình, nhưng trong thực tế thì hiện nay các dân tộc sống bằng nương rẫy có
từ 20 - 30 nóc nhà, thiếu ăn trong gia đình.
Phương
thức canh tác này nó ảnh hưởng xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh
thái. Ở Việt Nam,
mỗi gia đình có từ 5 - 6 người, thì phải đốt 1,5 ha mới có nguồn lương thực
nuôi sống gia đình. Như vậy, ở Việt Nam hay Đông Nam Á cần phải có từ 4 - 5
mảnh đất bỏ hoang để sau này chuyển sang canh tác tiếp theo (quay trở lại trong
một thời gian bỏ hoang).
+
Canh tác ruộng nước: có ruộng bậc thang trở thành với đặc trưng riêng, người
mông, dao là các cư dân được coi là người tạo ra các công trình lao động sáng
tạo với những triền ruộng bậc thang phân chia theo địa hình; ruộng bằng phẳng,
ruộng ngập nước, ruộng trời mưa, phân chia theo độ phì của đất để thu thuế.
+
Canh tác ruộng nước: phát triển hộ gia đình kế tiếp nhau: dùng cuốc - cày phải
thuần dưỡng gia súc, quá trình này phù hợp với đất khô, đất ruộng, canh tác
ruộng nước là phương thức canh tác có truyền thống lâu đời, nó không hoàn toàn
tuân thủ theo nguyên tắc từ cuốc sang cày, rất có thể ở đây về mặt truyền thống
xã hội chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ, gắn vai trò của người đàn ông với việc
thuần dưỡng gia súc.
+ Phương
thức canh tác sớm trên ruộng nước: dùng trâu quần ruộng, vì nó thích nghi với
môi trường, có thể tận dụng tối đa lao động sống của các thành viên trong gia
đình. Phương thức này tồn tại cho đến ngày nay. VD: Người Tày, Thái ở Hương
Giang…).
+
Trong canh tác ruộng nước mà có sự tách bạch thành hai khu vực là quá trình
gieo mạ và cấy lúa, đây là kinh nghiệm rút ra từ quá trình canh tác lâu năm để
lại.
+ Có
sự phân công trong canh tác theo giới, (phân công lao động theo giới) rất rõ
ràng, đàn ông đi cày, phụ nữ đi cấy tồn tại đến ngày nay.
+
Chăn nuôi truyền thống: Tập đoàn chăn nuôi nước ta, nó đa dạng về giống, nòi,
chia làm 2 loại: gia súc và gia cầm.
Gia
cầm: trầu, bò, lợn, chó, voi…được nuôi sớm, lâu đời, để làm sức kéo và thị, vì
trong tự nhiên con người thuần dưỡng.
Gia
súc: gà, vịt, ngan… Chăn nuôi chỉ là kinh tế bổ trợ của nông nghiệp trồng trọt,
trong đó con trâu là trợ thủ đắc lực của con người trong kinh tế nông nghiệp.
+
Mảnh vườn: nghề làm vườn của các dân tộc thiểu số Việt Nam, tạo điều kiện để
con người có điều kiện khai thác các đồi núi cằn cỗi, nghèo nàn, ít thuận tiện
cho việc gieo trồng các cây hoà thảo: mía, ngô, kê…;giúp cho việc tiết kiệm tài
nguyên đất và tăng trưởng mật độ cư dân; góp phần tạo nên cuộc sống định cư lâu
dài, giúp sự phát triển tư hữu; tác động mạnh đến sự phân công lao động xã hội,
tăng cường vai trò trao đổi.
Và
nhìn một cách tổng quát bức tranh vườn về các loại hình vườn ở miền Bắc Việt Nam là:
Vườn
ở ĐBTD: chủ yếu là người kinh, vùng ven đô ven thị: trồng rau, gia vị, cây đặc
sản và trồng hoa. Vườn trung du trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ là chủ yếu ;
vườn vùng thung lũng: trồng nhiều loại cây; vườn vùng cao miền núi phía bắc:
mang tính nguyên thuỷ điển hình.
Đối
với một bộ phận cư dân chưa có vườn thì nguồn sau có chủ yếu dựa vào rừng và ruộng
phục vụ đời sống cho họ.
+
Các hoạt động kinh tế hỗ trợ:
·
Thủ công nghiệp: thứ nhất là đối với người kinh, đối với người dân tộc thiểu số
thì chủ yếu là nghề dệt, dệt bằng sợi bông. Dân tộc Mông dệt bằng thân cây
lanh, nghề dệt giải quyết cơ bản cuộc sống, nghề đan lát cũng được phát triển
và sử dụng nhiều trong cuộc sống, nghề làm gốm: mỗi tiếng ở Đông Triều, Bắt
Trang… nghề rèn, có dao, cuốc, khoang nòng súng bằng bắc…
·
Ngành thủ công nghiệp, nó góp phần cải thiện đời sống phần nào cho nông dân,
gắn liền với nền kinh tế tự cấp, tự túc. Chưa thể biến thành các sản phẩm hàng
hoá.
+
Vai trò của kinh tế tự nhiên: nó chi phối đời sống nông dân trong thời kỳ lịch
sử lâu dài (trong xã hội nguyên thuỷ), thể hiện hình thức: săn bắn - hái lượm,
chỉ còn tồn tại ở người Rục (Quảng Bình), và người La Hủ (Lai Châu), nhưng các
bộ phận cư dân này bị thoái hoá (do họ bị đẩy vào vùng sâu, vùng xa cho nên họ
phải sống bằng tự nhiên). Ở Việt Nam,
dân tộc Tây Bắc Việt Nam
tìm thức ăn từ nguồn tự nhiên rất phong phú: Người Thái, Khmer, Mông, Khmer,…
gồm: cây củ, quả có chất bột.
Câu 2: Những đặc điểm xã hội của các dân tộc thiểu số
Việt Nam
- Các
dân tộc từng tồn tại các thiết chế xã hội tộc người điển hình. Các thiết chế
này, nó không phải do nhà nước phong kiến tư sản áp đặt mà nó được hình thành
do sự vận động tự nhiên của chính bản thân tộc người đó. Cụ thể là: Tày, Thổ
ty, Thái: mường nhà lang (lang đạo). Bên cạnh đó là xã huyện, xã - châu,
trong thời kỳ phong kiến nó phổ biến ở miền Nam, miền xuôi là xã - tẩu - huyện
- phủ - tỉnh - thị xã.
-
Các đặc điểm xã hội cụ thể : (MB).
Các
bản cũng được coi là các đơn vị cơ sở: nhiều gia đình của nhiều dòng họ cũng cư
trú, tập hợp cư dân theo đơn vị tộc người.
Vai
trò quan hệ dòng họ còn rất lớn. Dòng họ không chỉ mang tính chất huyết thống,
còn thể hiện quan hệ giai cấp và đẳng cấp.
Sự
công hữu đối với tư liệu sản xuất, cụ thể là công hữu đối với đất đai, ruộng
đất, rõ nét, nhiều vùng, đặc biệt là vùng Tây Bắc công hữu rất đậm nét.
Tất
cả các tộc người đều theo chế độ phụ hệ, phụ quyền (lấy theo họ cha).
Trao
đổi hôn nhân lấy vợ, lấy chồng chủ yếu là trong tộc người (nội tộc) - “nội hôn
- ngoại tộc”. Xã hội càng phát triển thì ngoại tộc càng cao và hôn tạp hôn nhân
và đây là bước phát triển rất cao trong xã hội các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Câu
3: Những đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Việt
Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 thành phần dân tộc, trong đấu tranh chống ngoại
xâm cũng như trong xây dựng đất nước, dân tộc ta đã lập nên nhiều chiến công
của lịch sử Việt Nam. Việc giải quyết tốt hay xấu vấn đề dân tộc có ảnh hưởng
quyết định tới sự hưng thịnh hay suy vong của đất nước.
Ngày
nay, để thực hiện tốt công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng một cộng
đồng quốc gia dân tộc thống nhất. Khi nói đến dân tộc Việt Nam ta có thể hiểu nó đồng nghĩa
với cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi nhiều thành phần dân tộc,
đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc, đồng nghĩa với nhà nước thống nhất của các
dân tộc.
Để
xây dựng một dân tộc cụ thể trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần phải có ý thức tự giác dân tộc, ngôn
ngữ, văn hoá…
Đặc
điểm của quốc gia Việt Nam
đa dân tộc là tính đa dạng của các dân tộc luôn gắn liền với tính thống nhất
của cộng đồng. Để làm rõ tính thống nhất trong đa dạng chúng ta phải nghiên cứu
những đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam:
-
Các dân tộc ở nước ta có tỷ lệ số dân rất không đều nhau: dân tộc kinh chiếm đa
số (87%), còn lại các dân tộc thiểu số dân số cũng không đều nhau.
Ngày
nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc tạo điều kiện để các dân tộc
cùng phát triển, đặc biệt là đối với các dân tộc có dân số quá ít còn gặp nhiều
khó khăn trong đời sống.
-
Các dân tộc ở nước ta có truyền thống đoàn kết trong quá trình chinh phục thiên
nhiên và chống giặc ngoại xâm, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.
Trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam có dân tộc cùng nguồn gốc và có dân tộc không
cùng nguồn gốc, có dân tộc cư trú lâu đời có dân tộc cư trú mới, có phong tục,
tập quán khác nhau… song các dân tộc đã đoàn kết, tương trợ để đấu tranh chinh
phục thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng tổ quốc Việt Nam thống nhất. Có câu
ca dao: “Bầu ơi… giàn” “nhiễu điều… cùng”. Quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc ở
Việt Nam đã ăn sâu trong tiềm thức của cư dân, được phản ánh tỏng các truyền
thuyết như Lạc Long Quân và Âu cơ…
Ngày
nay trong công cuộc xây dựng đất nước tinh thần đấu tranh chinh phục thiên
nhiên được tiếp tục củng cố, đoàn kết các dân tộc là đặc điểm lớn nhất của các
dân tộc ở nước ta, đoàn kết đã trở thành truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, nó là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của cộng đồng trong
công cuọc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
-
Các dân tộc ở Việt Nam cư
trú rất phân tán và xen kẽ nhau.
Đất
nước Việt Nam là một dải đất
giống như chiêc cầu nối liền từ Bắc xuống Nam,
từ Đông sang Tây, từ xưa tới nay nơi đây đã đón nhận những luông di cư, di dân
từ các nơi khác đến.
Địa
bàn cư trú của người kinh chủ yếu là ở đồng bằng, ven biển, trung du, còn các
dân tộc thiểu số sống ở miền núi. Phía Bắc, vùng Tây nguyên, trường sơn - Tây
nguyên, đồng bằng Nam bộ.
Ngày
nay các dân tộc thiểu số không còn cư trú ở khu vực riêng biệt, các dân tộc như
tày, nùng, thái… đã cư trú xen kẽ với các dân tộc khác trong bản mường.
Tình
hình cư trú phân tán, xen kẽ của các cư dân thuộc các thành phần dân tộc gắn
liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước, có thể dẫn đến hai khuynh
hướng.
+
Tăng cường sự hiểu biết, hoà hợp và xích lại gần nhau giữa các dân tộc.
+ Có
thể dẫn đến các va chạm giữa các dân tộc.
Ngày
nay, tình trạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh
tế-xã hội giữa các dân tộc, thúc đẩy quá trình hoà hợp các dân tộc.
-
Các dân tộc thiểu số ở nước ta phân bố trên địa vực có vị trí quan trọng về
kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái…
Miền
núi nước ta chiếm 3/4 diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm lực kinh tế to
lớn về tài nguyên rừng và đất rừng. Hàng triệu năm qua cư dân đã sống dựa vào
các nguồn thực phẩm sẵn có của núi rừng, sông suối.
Các
dân tộc thiểu số ở miền núi đã trực tiếp góp phần vào việc bảo vệ biên giới,
bảo đệ đất đai của tổ quốc. Địa vực cư trú của dân tộc thiểu số có quan hệ trực
tiếp tới vấn đề chính trị của quốc gia.
-
Các dân tộc ở Việt Nam có
trình độ phát triển kinh tế-xã hội không đều nhau:
Sự
phát triển không đồng đều về nhiều mặt giữa các dân tộc ở các giải quyết đa dân
tộc là tình trạng phổ biến về phương diện kinh tế có thể chia làm 2 giai đoạn
phát triển:
+
Giai đoạn kinh tế chiếm đoạt: săn bắn - hái lượm, con người sống chủ yếu dựa
vào nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên, kinh tế chiếm đoạt được duy trì suốt
thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ.
+
Giai đoạn kinh tế sản xuất: con người bước sang giai đoạn phát triển cao hơn,
có nhiều loại hình khác nhau: sản xuất nương rẫy, sản xuất ruộng nước.
Sự
phát triển kinh tế-xã hội không đều thể hiện giữa các vùng, các dân tộc. Sự
phát triển không đều là do hoàn cảnh tự nhiên quyết định.
-
Từng dân tộc ở Việt Nam có
bản sắc văn hoá riêng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của văn hoá
Việt Nam.
Là
một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, văn hoá Việt Nam vừa có tính đa dạng, vừa có tính thống nhất.
Bản
sắc văn hoá của các dân tộc là biểu hiện sự ứng xử của một cộng đồng người
trong một hoàn cảnh tự nhiên và không gian xã hội cụ thể.
+ Về
ngôn ngữ có nhiều dòng: Nam Á, Nam
đảo, Hán tạng, Kadai,
+ Về
hoạt động sản xuất kinh tế mỗi vùng, mỗi dân tộc đều gắn với điều kiện tự
nhiên, và tập quán riêng.
+
Nhà cửa cũng có nhiều loại, tiêu biểu là nhà snà và nhà đất.
+
Trang phục có nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc: áo, quần, váy…
+
Tính chất xã hội: làng người kinh có từ vài chục đến hàng trăm gia đình, có từ
3 đến 5 hoặc nhiều dòng họ.
Với
54 dân tộc với nhiều bản sắc văn hoá riêng, tạo nên sự phong phú đa dạng, song
các dân tộc ở Việt Nam cùng chung sông trong khu vực lịch sử - văn hoá ở vùng
Đông Nam Á, hầu hết là cư dân nông nghiệp trồng trọt là chính, cùng liên kết,
gắn bó chinh phục thiên nhiên và giữ nước, đều có ý thức về quốc gia dân tộc
chung, đều có sự đóng góp vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam.
Kết
luận:
Những
đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nêu trên, nói lên dân tộc Việt Nam
là một cộng đồng gồm nhiều dân tộc, cộng đồng dân tộc Việt Nam là cộng đồng
thống nhất, tồn tại và phát triển phong phú, đa dạng.
Trong
suốt quá trình lịch sử, xu thế chủ đạo, hợp quy luật là hoà hợp thống nhất,
đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc, đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên
suốt quá trình dựng nước và giữ nước.
Để
giải quyết tốt vấn đề dân tộc ở nước ta, vấn đề cơ bản là khắc phục sự phát
triển không đều về kinh tế-xã hội của các cộng đồng dân tộc.
Những
đặc điểm trên cho chúng ta những cơ sở thực tiễn để xây dựng những giải pháp
cần thiết trong tình hình cụ thể ở nước ta hiện nay./.
Câu
4: Những đặc điểm kinh tế cổ truyền của các dân tộc Việt Nam.
Hoạt động kinh tế truyền
thống là một trong nhiều nội dung quan trọng của toàn bộ đời sống quá khứ của
bất kỳ dân tộc nào.
Trong thang bậc của sự phát
triển xã hội thì những tiến bộ về kinh tế để đáp ứng các nhu cầu về ăn, ở, mặc
là sự phản ánh quan trọng nhất của sự tiến bộ lịch sử loài người. Từ hoạt động
chỉ dựa vào khai thác tự nhiên chuyển sang nền kinh tế nông nghiệp và chăn
nuôi, dù mới chỉ là sơ khai cũng đã là một mốc cắm rất quan trọng. Đến khi thủ
công nghiệp tách khỏi nông nghiệp thì sự kiện này được ghi nhận là một trong 3
cuộc đại phân công lao động xã hội. Hiện đại hơn là sự phát triển của nền kinh
tế công nông rồi hậu công nghiệp đều là các mốc đánh dấu bước tiến vượt bậc của
nhân loại.
- Hoạt động kinh tế nông
nghiệp:
+ Sự ra đời của nông nghiệp
ở Việt Nam:
Con người trong cuộc sống
của mình luôn luôn chịu sự tác động của môi trường xung quanh, cùng trở về quá
khứ xa xưa thì sự chi phối của tự nhiên đối với bản thân con người càng lớn. Sự
chi phối này không chỉ giới hạn trong đời sống thường ngày mà hơn thế nó tác
động đến cả những thành tựu trong sáng tạo, phát minh. Những sự phát minh ra
nông nghiệp với các dạng thức khác nhau, với thời gian sớm muộn không đồng nhất
một phần rất quan trọng là do môi trường quy định.
Trong quá trình sinh tồn,
con người luôn tác động đến ngoại cảnh làm thay đổi ngoại quan, thay đổi cả môi
trường, làm thay đổi cà mối liên hệ trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến kết
quả là làm thay đổi cả hệ sinh thái được thể hiện rõ từ khi con người tiến đến
các ngành kinh tế sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi: mối quan hệ của con người
với hệ sinh thái là 2 chiều: Càng trở về quá khứ thì hệ sinh thái tác động
lên con người càng lớn. Sự hoạt động này để lại dấu ấn trong toàn bộ hoạt động
của con người thời tiền sử, tạo ra các đặc điểm riêng của con đường pơt văn hoá
- kinh tế của các cư dân khác nhau của hành tinh.
Các cư dân cổ đại Việt Nam hướng công việc săn bắn, hái lượm của mình
vào nhiều loài, mỗi loài một ít kiểu săn bắn hái lượm như vậy được gọi là săn
bắn hái lượm theo phổ rộng được biểu hiện cả trong hoạt động săn bắn và cả
trong hoạt động hái lượm. Như vậy hoạt động hái lươm theo phổ rộng chiếm ưu thế trong
đời sống của các cư dân tiểu nông nghiệp Việt Nam và Đông nam á, do đó nông
nghiệp Việt Nam và Đông Nam á đã nảy sinh từ hoạt động hái lượm theo phổ rộng.
+ Các phương thức canh tác:
trồng trọt truyền thống.
Các phương thức canh tác là
sự phản ánh khả năng khai thác. Các điều kiện tự nhien, đất dâi, nước) và là sự
thích nghi với các điều kiện môi trường (khí hậu, thời tiết…). Từ cổ xưa, các
cư dân ở Việt Nam và Đông
Nam Á đã biết đến các phương thức canh tác: canh tác nương rẫy và canh tác
ruộng nước.
Canh tác nương rẫy: là loại
hình canh tác trên đất khô, chủ yếu là các vùng đồi núi. Chặt cây đốt rừng là
điểm nổi bật của phương thức canh tác này.
Phương thức phát đốt mảnh
đất canh tác có một thời gian cách quãng (có thời gian nghỉ). Những rừng mọc
lại trên mảnh nương cũ là rừng tái sinh nên mức độ dầy rậm kém hơn nhiều so với
rừng nguyên sinh. Do đó, người ta cần có những mảnh đất để canh tác ngay và mặt
khác phải có các mảnh dự trữ. Nhưng để rừng có thể mọc lại, để hạn chế bào mòn
tầng canh tác, việc sử dụng các công cụ truyền thống là rất hữu hiệu.
Hiện nay, chúng ta vẫn còn
gặp một dạng công cụ nguyên thuỷ là cây gậy chọc lỗ được sử dụng trong công
việc gieo hạtà hạn chế bào mòn,
Năng suất cây trông trên
nương rẫy thường không ổn định à phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên,
con người chỉ phát đốt và làm cỏ. Do đó, người dân phải sống phân tán và dẫn
đến du danh du cư.
+ Canh tác ruộng nước: là
loại hình canh tác phổ biến ở những vùng của Châu Á với nhiều dân tộc thuộc các
ngôn ngữ khác nhau. Người ta thấy ruộng nước có mặt trên các sườn núi đã được
cải tạo thành ruộng bậc thang mà tiêu biểu nhất loại ruộng này là ruộng của
người Iphugao ở Philipin, ở các vùng thung lũng hẹp thì hình thành nên các cánh
động lúa nước, có diện tích phổ biến là từ vài chục đến vài trăm hécta như các
cánh đồng của người Thái, Tày, Mường à hợp thành những cánh động thẳng cánh cò
bay như các vùng châu thổ sông Hồng, Mê Kông, các tỉnh ven biển miền Trung
của người Việt, người Khmer, người chăm.
Người ta phân ruộng nước ra làm
nhiều loại: theo địa lí địa hình ruộng nước miền chân núi, ruộng nước vùng đầm
lầy, ruộng bằng phẳng, bậc thang, theo chế độ phủ nước, ruộng ngậm nước, ruộng
chờ mưa…
Có 2 giai đoạn ké tiếp nhau
trong canh tác nông nghiệp là: nông nghiệp cuốc (giai đoạn trước) và nông
nghiệp cày (giai đoạn sau). Tiến trình này phù hợp với người canh tác trên khô.
+ Chăn nuôi truyền thống.
Chăn nuôi của Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú về giống,
loài. Gia súc: trâu, bò, voi, lợn. Gia cầm: gà, vịt, ngan… đó là những động vật
được nuôi từ rất lâu đời, nó cung cấp cho con người về sức kéo và thịt ăn hàng
ngày, ngoài ra còn phục vụ cho nhu cầu tôn giáo của mỗi giai đoạn và của cả
cộng đồng.
Mặc dù chăn nuôi xuất hiện
sớm các động vật nuôi dù đa dạng, phong phú thì nó vẫn chỉ là một phần bổ trợ
cho nông nghiệp trồng trọt và trước hết nó phục vụ cho nông nghiệp trồng
trọt. Trong các con vật nuôi, con trâu là chiếm vị trí đặc biệt là trợ thủ đắc
lực của con người, là vật ngang giá.
Phương thức chăn nuôi truyền
thống là chăn thả tự nhiên. Đàn trâu được thả trong rừng quanh năm, con trâu
được con người yêu quý và vai trò của nó nổi bật trong đời sống tâm linh của
nhiề dân tộc là vị trí không thể thay thế của nó trong đời sống vật chất, hoạt
động nông nghiệp của đại bộ phận các cư dân Việt Nam vẫn coi nghề nông trồng
lúa là phương tiện sinh tồn quan trọng nhất. Bên cạnh con trâu là con voi, voi
giúp con người làm những công việc nặng nhọc (chuyển gỗ…) voi là vật ngang giá
của cả thế giới.
Như vậy, chăn nuôi truyền
thống, vật nuôi truyền thống không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về phương diện kinh
tế mà nó còn có vị trí xác định trong đời sống tinh thần và trong các sh văn
hoá của nhiều cư dân.
+ Nghề làm vườn:
Sự xuất hiện mảnh vườn và
nghề làm vườn ở Việt Nam là
khá muộn. Sự xuất hiện và phát triển của nghề làm vườn cho một loạt kết quả
quan trọng.
+ Nó tạo điều kiện khai khẩn
có hiệu quả vùng đồi núi với đất sỏi tương đối nghèo nàn, ít thuận lợi cho việc
gieo trồng câyhoà thảo.
+ Đối với cây trồng ở vườn
cần ít đất hơn so với cây hoà thảo, giúp cho việc tiết kiệm đất canh tác còn
tăng trưởng mật độ cư dân.
+ Cho phép thu hoạch trong
thời gian nhiều năm, con người ta định cư lâu dài hơn, phát triển sở hữu riêng
à sự tư hữu với đất đai.
- Nghề thủ công nghiệp: có
từ thời nguyên thuỷ, con người đã phát minh ra lửa bằng phương pháp sử dụng ma
sát, từ đó lửa đã tham gia vào quá trình hình thành hoạt động sáng tạo mới: lửa
kết hợp với chiếc rìu đá tạo ra chiếc thuyền độc mộc đầu tiên. Lừa có vai trò
quyết định trong việc mang đồ gốm nấu chảy quặng, đồng, sắt, kim loại. Kim loại
được nấu chảy giúp cho nghề rèn phát đạt chiếc cày xuất hiện với việc sử dụng
sức kéo gia súc.
Bên cạnh nghề rèn, hàng loạt
nghề khác cũng xuất hiện thịnh vượng: cối xay tay, bàn xoay đồ gốm, sản xuất
dầu thực vật… nghề thủ công ngày càng trở thành một bộ phận không thể tách rời
của văn hoá văn minh của người dân tộc và nhiều quốc gia các nghề thủ công càng
phát triển thì ngày càng tách khỏi nhau, ngày càng được chuyên hoá. Sản phẩm
nhiều, loại hình đa dạng, đó cũng là cơ sở để thủ công tách khỏi nông nghiệp,
thực hiện cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ 2 của nhân loại./.
Câu 5 . Những nguyên tắc cơ bản
trong đường lối dân tộc của Đảng ta.
Quán triệt cương lĩnh về dân
tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta ngay từ đầu đã xây dựng những nguyen tắc
cơ bản của chính sách dân tộc ở Việt Nam và thể hiện rõ nhất trong văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX là: bình đẳng giữa các dân tộc; đoàn
kết các dân tộc; tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta phát triển theo quá trình cách mạng, nhưng những
nguyên tắc trên được quán triệt và thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ.
1. Bình đẳng giữa các dân
tộc.
- Là quyền ngang nhau của
mọi dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển, màu da,
chủng tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trong tất cả mọi mặt
của đời sống xã hội được đảm bảo bằng pháp lý. Ngày nay, cuộc đấu tranh giành
quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên phạm vi toàn thế giới vẫn đang tiếp tục,
vì những âm mưu và thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia,
chia rẽ, đàn áp các dân tộc vẫn đang tồn tại trong quan hệ quốc tế.
- Quyền bình đẳng giữa các
dân tộc là một giá trị của nhân loại đã được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội về chủ quyền tự quyết, chống lại mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc
cực đoan dưới mọi hình thức, chống mọi mưu đồ chính trị nhằm can thiệp vào công
việc nội bộ của các dân tộc, chia rẽ kỳ thị đồng hoá các dân tộc; bình đẳng về
kinh tế, văn hoá - xã hội…
Trong tuyên ngôn độc lập,
chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu trích dẫn tuyên ngôn độc lập của Mỹ và tuyên
ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp về quyền bình đẳng con người và các dân
tộc. Người xác định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng;
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
- Nguyên tắc bình đẳng giữa
các dân tộc của Đảng ta được thể hiện ở những điểm chính sau đây:
+ Tất cả các dân tộc đều
bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
+ Quyền bình đẳng được đảm
bảo trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá có cơ hội phát
triển.
+ Ngoài quyền bình đẳng,
quyền lợi những công dân là dân tộc thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để
nhanh chóng tiến kịp trình độ chung.
+ Thống nhất giữa quyền bình
đẳng về pháp láy với quyền bình đẳng trên thực tế.
2. Đoàn kết các dân tộc:
Thực chất là sự đoàn kết
giữa những người lao động, làm chủ đất nước, làm chủ quê hương, phấn đấu vì mục
đích chung giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đoàn
kết các dân tộc, trước hết là đoàn kết tất cả các công nhân của các dân tộc,
giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến).
Đoàn kết vì mục tiêu chung
là giải phóng mọi áp bức, bất công đối với mình và nhân dân lao động, nên giai
cấp công nhân có lợi ích chung với mọi tầng lớp nhân dân lao động, chiếm đại bộ
phận dân cư trong các dân tộc. Đoàn kết giai cấp công nhân trong các dân tộc là
hạt nhân để nâng cao đoàn kết các dân tộc.
Đảng ta phát triển nguyên
tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
thành đoàn kết dân tộc, coi đó là một nguyên tắc cơ bản của mọi dân tộc. Vì
vậy, trên cơ sở đoàn kết giai cấp công nhân trong tất cả các dân tộc, đoàn kết
các giai cấp để đấu tranh giành độc lập, tự cho cho Tổ quốc là động lực to
lớn để đi tới thắng lợi.
Đoàn kết các dân tộc để tiến
hành công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: đoàn kết toàn dân
tộc là động lực to lớn cho sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Đoàn kết còn là sự phát triển truyền thống quý báu của dân tộc ta, phát huy sức
mạnh còn là sự phát huy dân tộc để giải quyết những vấn đề hiện tại. Nguyên tắc
đoàn kết các dân tộc được quán triệt ngay từ đầu, chủ tịch Hồ Chí Minh là người
luôn luôn nhắc nhở nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, bắt đầu từ đoàn
kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết quốc tế, đồng thời phải
giữ gìn đoàn kết như giữ con ngươi của mắt mình.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết.
Thành công, thành công, đại
thành công”
Có thể nói thực hiện quyền
bình đẳng chính là cơ sở để thực hiện đoàn kết dân tộc. Vì vạy, để thực hiện
chính sách bình đẳng và đoàn kết dân tộc và những hậu quả tiêu cực do chế độ cũ
để lại.
3. Tương trợ giúp đỡ nhau
cùng phát triển:
Sự phát triển lâu dài của
lịch sử đã để lại một hiện trạng là trong một quốc gia, sự phát triển của các
dân tộc không đều nhau. Có dân tộc phát triển ở trình độ phát triển kinh tế -
xã hội cao hơn, có dân tộc còn đang ở trình độ phát triển kinh tế-xã hội thấp.
Sự phát triển không đều đặt ra một thực tế là giải quyết mối quan hệ các dân
tộc là giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc phát triển trước và các dân tộc
còn phát triển ở trình độ thấp.
Xuất phát từ bản chất của
giai cấp công nhân, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc là một tất
yếu khách quan, là yêu cầu của cuộc đấu tranh, giai cấp dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng xã hội dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Nội dung của tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau đã bao hàm sự giúp đỡ của dân tộc này, với dân tộc khác, không phải
là sự giúp đỡ một chiều, những đặc điểm về dân tộc, địa bàn cư trú, bản sắc văn
hoá truyền thống dân tộc… của mỗi dân tộc, đã tạo ra cho mỗi dân tộc những điều
kiện để giúp đỡ dân tộc khác và ngược lại nhận sự giúp đỡ của các dân tộc khác
để phát triển.
Chỉ có trên cơ sở bình đẳng
và đoàn kết mới có thể thực hiện được sự tương trợ giúp nhau cùng phát triển.
. Thực hiện bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc để các dân tộc cùng phát
triển. Quyền phát triển của các dân tộc được thể hiện bằng các chính sách và
giải pháp phù hợp để các dân tộc có điều kiện phát triển vươn lên cùng các dân
tộc khác. Sự phát triển của các dân tộc này là điều kiện để thúc đẩy sự phát
triển của các dân tộc khác trên mọi lĩnh vực. Nhà nước phải tạo điều kiện cho
sự phát triển tự do đó. Vì vậy, phải tạo điều kiện để các dân tộc cùng phát
triển, đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, cùng xây dựng nền kinh tế quốc
dân thống nhất, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Các nguyên tắc cơ bản trên
đây của chính sách dân tộc là sự phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin giải quyết vấn đề dân tộc trên phạm vi quốc gia và quốc tế của Đảng
và Nhà nước ta. Các nguyên trên có mối quan hệ vứi nhau, được thực hiện nhất
quán trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, phù hợp với đặc điểm của cộng
đồng dân tộc Việt Nam và đã phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc trong
đấu tranh dựng và giữ nước của ông cha ta./.
Câu 6 .Những đặc điểm chủ yếu và ngôn ngữ của các dân tộc Việt Nam.
I- Những đặc điểm chủ yếu :
1- Các dân tộc Việt Nam có tỷ lệ số dân không đều và sống xen kẽ lẫn nhau.
Tính đến cuối năm 2000, trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm 87% là dân tộc đa số. Còn lại 53 dân tộc chỉ chiếm 13% gọi là các dân tộc thiểu số, tỷ lệ dân số cũng rất khác nhau.
Tính chất cư trú của dân tộc ở nước ta rất phân tán và xen kẽ: cư dân của một dân tộc cư trú ở nhiều tỉnh; trên địa bàn của một tỉnh, huyện, xã và tới thôn bản có nhiều thành phần dân tộc.
Tính chất quan trọng này đã khẳng định rằng nước ta không có lãnh thổ tộc người riêng biệt. Hiện nay trên một địa bàn tỉnh có cư dân thuộc hàng chục thành phần dân tộc cùng chung sống, đây là điều kiện để các dân tộc giao lưu về văn hoá, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và cũng là cơ sở thực tiễn cần cho các nhà nghiên cứu trong việc lập các hoạch định chính sách ở vùng dân tộc.
2-Các dân tộc phân bố trên địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng.
-Về chính trị:
Việt Nam có đường biên giới trên đất liền chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia, với chiều dài 4.000 Km. Dọc theo đường biên giới có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống; các dân tộc ở đây đều có những đồng tộc thuộc các nước láng giềng ở bên kia biên giới.
-Về kinh tế:
Ở miền núi, địa bàn có chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất đai, rừng, nguồn nước. Điều kiện khí hậu ở đây có thể phát triển các loại cây dược liệu, cây công nghiệp.
Dọc tuyến biên giới nước ta có nhiều cửa khẩu thông thương với các nước láng giềng. Đây là điều kiện rất tốt để giao lưu về kinh tế.
-Về quốc phòng:
Biên giới, vùng núi từ bao đời đã là phên giậu của quốc gia. Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi được sử dụng làm căn cứ cách mạng như ở Việt Bắc, Tây Bắc….
3- Các dân tộc ở nước ta có lịch sử gắn bó lâu đời trong đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất.
4- Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau:
-Về lĩnh vực xã hội: các dân tộc ở vùng đồng bằng ( Kinh, Chăm, Khơme): Tiếp thu các yếu tố văn minh, hiện đại. Tuy nhiên vẫn còn ảnh hưởng một số tàn dư của xã hội phong kiến như trọng nam khinh nữ, người đàn ông vẫn có vị trí quan trọng trong gia đình, xã hội.
Các dân tộc còn lại cũng vẫn còn ít nhiều ảnh hưởng tàn dư phong kiến lúc sơ kỳ hoặc trước thời phong kiến.
-Về lĩnh vực kinh tế : Còn một số dân tộc còn sống dựa vào săn bắn, hái lượm dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên, hầu hết các dân tộc đã có loại hình kinh tế sản xuất nương rẫy hoặc sản xuất ruộng nước.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau giữa các vùng, giữa các dân tộc là do nguyên nhân lịch sử (chiến tranh, chính sách của chế độ cũ), và do hoàn cảnh tự nhiên chi phối.
5- Sắc thái văn hoá các dân tộc ở nước ta rất phong phú, đa dạng:
5.1- Về ngôn ngữ :
* Ngôn ngữ gồm có ba loại chính :
a- Ngôn ngữ ra dấu: Trao đổi thông tin trong im lặng bằng ký hiệu ra dấu như vẫy tay, che mắt, đưa các ngón tay để thông báo số lượng, v.v…..; hình thức nầy sử dụng từ lúc loài người còn sơ khai.
b- Ngôn ngữ viết: Biểu hiện bằng các hình ảnh minh họa đến các chữ tượng hình và chữ viết hiện đại.Việt Nam ta có chữ tượng hình trên mặt trống đồng, chữ viết nôm của các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Mường, Thái….
c- Ngôn ngữ nói: Trao đổi thông tin bằng miệng qua lời nói, thường thì mỗi dân tộc có một loại ngôn ngữ nói; ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu ngôn ngữ nói của Việt Nam. Tiếng Việt (Kinh) là ngôn ngữ phổ thông.
5.2- Về nhà cửa:
Có nhiều loại: nhà sàn, nhà dài, nhà rông, nhà đất….
5.3- Về trang phục: Áo dài của người Kinh, váy của người Hơ Mông, quần áo của người Tày, Thái, Dao….
5.4- Làng bản của các dân tộc rất đa dạng, song có điểm quan tâm là các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều hướng tới cái chung là sự thống nhất trong đa dạng.
* Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, Trong quá trình phát triển, xu thế chủ đạo, hợp quy luật là hoà hợp, thống nhất, đoàn kết, tương trợ nhau để cùng phát triển. Những đặc điểm trên là cơ sở thực tiễn trong việc định ra chính sách phù hợp trong từng hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể. Đảng ta đã xác định : “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”. ( Báo cáo chính trị tại Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam)./.
II- Các nhóm ngôn ngữ của Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc, cùng sử dụng chung tiếng nói phổ thông là tiếng Việt (Kinh) để trao đổi thông tin giữa các dân tộc trong nước; theo sự nghiên cứu mới nhất của Viện Dân Tộc (Hà Nội) thì các ngôn ngữ Việt Nam chia làm tám nhóm:
(1)-Nhóm Việt – Mường (4 dân tộc) : Việt (Kinh), Mường, Thổ (La Chí), Chứt. Quá trình tách nhóm Việt – Mường thành các dân tộc đã diễn ra vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên niên kỷ II sau công nguyên.
(2)- Nhóm Tày- Thái ( 8 dân tộc) : Tày, Thái, Nùng (Phàn Sình), Bố Y, Giáy, Lào, Lư, Sán Chay (Cao Lan).
(3)- Nhóm Mông – Dao ( 3 dân tộc) : Mông (Hơ Mông, H’Mông, Mèo), Dao (Mán), Pà Thẻn .
(4)- Nhóm Malayô – Polinêsia (5 dân tộc): Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Raglai, Chăm.
(5)- Nhóm Hán ( 3 dân tộc) : Hoa, Ngái, Sán Dìu.
(6)- Nhóm Tạng – Miến (6 dân tộc): Hà Nhì, Phú Lá, La Hủ, Cống, Lô Lô, Si La.
(7)- Nhóm hổn hợp ( 4 dân tộc) : Cơ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha.
(8)- Nhóm Môn – Khơme ( 21 dân tộc): Khơme (Khmer, Kh’mer), Bana, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mnông, Stiêng, Bru, Vân Kiều, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Mạ, Khơ Mú, Tà Ôi, Chơ Ro, Kháng, Xinh Mun, Mảng, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm.
I- Những đặc điểm chủ yếu :
1- Các dân tộc Việt Nam có tỷ lệ số dân không đều và sống xen kẽ lẫn nhau.
Tính đến cuối năm 2000, trong số 54 dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm 87% là dân tộc đa số. Còn lại 53 dân tộc chỉ chiếm 13% gọi là các dân tộc thiểu số, tỷ lệ dân số cũng rất khác nhau.
Tính chất cư trú của dân tộc ở nước ta rất phân tán và xen kẽ: cư dân của một dân tộc cư trú ở nhiều tỉnh; trên địa bàn của một tỉnh, huyện, xã và tới thôn bản có nhiều thành phần dân tộc.
Tính chất quan trọng này đã khẳng định rằng nước ta không có lãnh thổ tộc người riêng biệt. Hiện nay trên một địa bàn tỉnh có cư dân thuộc hàng chục thành phần dân tộc cùng chung sống, đây là điều kiện để các dân tộc giao lưu về văn hoá, trao đổi kinh nghiệm sản xuất và cũng là cơ sở thực tiễn cần cho các nhà nghiên cứu trong việc lập các hoạch định chính sách ở vùng dân tộc.
2-Các dân tộc phân bố trên địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng.
-Về chính trị:
Việt Nam có đường biên giới trên đất liền chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia, với chiều dài 4.000 Km. Dọc theo đường biên giới có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống; các dân tộc ở đây đều có những đồng tộc thuộc các nước láng giềng ở bên kia biên giới.
-Về kinh tế:
Ở miền núi, địa bàn có chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất đai, rừng, nguồn nước. Điều kiện khí hậu ở đây có thể phát triển các loại cây dược liệu, cây công nghiệp.
Dọc tuyến biên giới nước ta có nhiều cửa khẩu thông thương với các nước láng giềng. Đây là điều kiện rất tốt để giao lưu về kinh tế.
-Về quốc phòng:
Biên giới, vùng núi từ bao đời đã là phên giậu của quốc gia. Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi được sử dụng làm căn cứ cách mạng như ở Việt Bắc, Tây Bắc….
3- Các dân tộc ở nước ta có lịch sử gắn bó lâu đời trong đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất.
4- Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau:
-Về lĩnh vực xã hội: các dân tộc ở vùng đồng bằng ( Kinh, Chăm, Khơme): Tiếp thu các yếu tố văn minh, hiện đại. Tuy nhiên vẫn còn ảnh hưởng một số tàn dư của xã hội phong kiến như trọng nam khinh nữ, người đàn ông vẫn có vị trí quan trọng trong gia đình, xã hội.
Các dân tộc còn lại cũng vẫn còn ít nhiều ảnh hưởng tàn dư phong kiến lúc sơ kỳ hoặc trước thời phong kiến.
-Về lĩnh vực kinh tế : Còn một số dân tộc còn sống dựa vào săn bắn, hái lượm dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên, hầu hết các dân tộc đã có loại hình kinh tế sản xuất nương rẫy hoặc sản xuất ruộng nước.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau giữa các vùng, giữa các dân tộc là do nguyên nhân lịch sử (chiến tranh, chính sách của chế độ cũ), và do hoàn cảnh tự nhiên chi phối.
5- Sắc thái văn hoá các dân tộc ở nước ta rất phong phú, đa dạng:
5.1- Về ngôn ngữ :
* Ngôn ngữ gồm có ba loại chính :
a- Ngôn ngữ ra dấu: Trao đổi thông tin trong im lặng bằng ký hiệu ra dấu như vẫy tay, che mắt, đưa các ngón tay để thông báo số lượng, v.v…..; hình thức nầy sử dụng từ lúc loài người còn sơ khai.
b- Ngôn ngữ viết: Biểu hiện bằng các hình ảnh minh họa đến các chữ tượng hình và chữ viết hiện đại.Việt Nam ta có chữ tượng hình trên mặt trống đồng, chữ viết nôm của các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Mường, Thái….
c- Ngôn ngữ nói: Trao đổi thông tin bằng miệng qua lời nói, thường thì mỗi dân tộc có một loại ngôn ngữ nói; ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu ngôn ngữ nói của Việt Nam. Tiếng Việt (Kinh) là ngôn ngữ phổ thông.
5.2- Về nhà cửa:
Có nhiều loại: nhà sàn, nhà dài, nhà rông, nhà đất….
5.3- Về trang phục: Áo dài của người Kinh, váy của người Hơ Mông, quần áo của người Tày, Thái, Dao….
5.4- Làng bản của các dân tộc rất đa dạng, song có điểm quan tâm là các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều hướng tới cái chung là sự thống nhất trong đa dạng.
* Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, Trong quá trình phát triển, xu thế chủ đạo, hợp quy luật là hoà hợp, thống nhất, đoàn kết, tương trợ nhau để cùng phát triển. Những đặc điểm trên là cơ sở thực tiễn trong việc định ra chính sách phù hợp trong từng hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể. Đảng ta đã xác định : “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”. ( Báo cáo chính trị tại Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam)./.
II- Các nhóm ngôn ngữ của Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc, cùng sử dụng chung tiếng nói phổ thông là tiếng Việt (Kinh) để trao đổi thông tin giữa các dân tộc trong nước; theo sự nghiên cứu mới nhất của Viện Dân Tộc (Hà Nội) thì các ngôn ngữ Việt Nam chia làm tám nhóm:
(1)-Nhóm Việt – Mường (4 dân tộc) : Việt (Kinh), Mường, Thổ (La Chí), Chứt. Quá trình tách nhóm Việt – Mường thành các dân tộc đã diễn ra vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên niên kỷ II sau công nguyên.
(2)- Nhóm Tày- Thái ( 8 dân tộc) : Tày, Thái, Nùng (Phàn Sình), Bố Y, Giáy, Lào, Lư, Sán Chay (Cao Lan).
(3)- Nhóm Mông – Dao ( 3 dân tộc) : Mông (Hơ Mông, H’Mông, Mèo), Dao (Mán), Pà Thẻn .
(4)- Nhóm Malayô – Polinêsia (5 dân tộc): Gia Rai, Ê Đê, Chu Ru, Raglai, Chăm.
(5)- Nhóm Hán ( 3 dân tộc) : Hoa, Ngái, Sán Dìu.
(6)- Nhóm Tạng – Miến (6 dân tộc): Hà Nhì, Phú Lá, La Hủ, Cống, Lô Lô, Si La.
(7)- Nhóm hổn hợp ( 4 dân tộc) : Cơ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha.
(8)- Nhóm Môn – Khơme ( 21 dân tộc): Khơme (Khmer, Kh’mer), Bana, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mnông, Stiêng, Bru, Vân Kiều, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Mạ, Khơ Mú, Tà Ôi, Chơ Ro, Kháng, Xinh Mun, Mảng, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm.
How to Deposit - Casino Roll
Trả lờiXóaYou are in control of the money from 온라인 슬롯 사이트 the casino 블루 벳 먹튀 account. You can deposit this money 딥 슬롯 by 벳익스플로어 depositing or wagering 벳 365 우회 on your favorite game and more,